Hiển thị các bài đăng có nhãn dsat. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn dsat. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 1 tháng 4, 2009

Nem Lai Vung

“Lai Vung là xứ lạ lùng
Nem chua mà ngọt, thơm lừng mà say…”


Không phải ngẫu nhiên mà mỗi khi nhắc đến Lai Vung, người ta lại nghĩ ngay đến nem chua. Đây là một trong những đặc sản của mảnh đất Lai Vung, nổi tiếng khắp các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long.

Ra đời từ hơn 60 năm về trước, nem Lai Vung có một hương vị riêng, rất đặc trưng mà không nơi nào có được. Việc làm nem lúc đầu chỉ để phục vụ cho việc cúng kiến, đám hỏi, đám giỗ, lễ tết. Về sau người ta thấy nem ngon nên mới bắt đầu làm để bán. Hộ làm nem đầu tiên để bán là ông Giáo Thơ ở xã Tân Thành. Vì nem Lai Vung có hương vị riêng, rất ngon được nhiều người tìm mua nên nhiều hộ học cách làm nem.


nơi sản xuất nem



Lúc đầu, nem được đem bán ở chợ hoặc được chào bán trên các chuyến phà miền Tây như: phà Vàm Cống, phà Mỹ Thuận, phà Cao Lãnh, phà Cần Thơ… Dần dần việc làm nem ngày càng được mở rộng và các hộ làm nem đã tập trung lại hình thành nên làng nem Lai Vung với hàng chục lò nem lớn nhỏ như: Giáo Thơ, Út Thẳng, Thúy Ngoan, Tư Minh… Hiện nay, loại nem này đã được đăng ký thương hiệu độc quyền “nem Lai Vung”.

hàng nghìn chiếc nem được sản xuất mỗi ngày


Để có những chiếc nem ngon với hương vị đặc trưng riêng biệt, đòi hỏi người làm nem phải thật kéo tay và lành nghề. Thịt làm nem phải là thịt nạc heo được lọc hết gân, mỡ, xắt mỏng, sau đó cho vào cối rồi giã nhuyễn. Da heo được lạng mỏng và xắt sợi thật nhỏ. Cho hỗn hợp thịt, da heo, tiêu, ớt, đường, muối với lượng vừa phải rồi xoay nhuyễn.

Photobucket



Nem được gói bằng lá vông hay lá tầm ruột, kế đến là lớp nilông, sau cùng được bọc bên ngoài bằng lá chuối xanh, và được cột bằng dây nilông, kết xâu mười chiếc. Thời gian để nem lên men, chua lâu hay mau là do lớp lá chuối ngoài cùng dày hay mỏng. Thông thường nem sau ba ngày gói là thời điểm lên men với độ chua vừa ăn nhất.

nem lai vung



Cái cảm giác chua chua, ngọt ngọt, vừa mặn, vừa cay…đã tạo nên một hương vị đặc trưng chỉ có ở nem Lai Vung. Bởi thế, mà người làm nem Lai Vung vẫn thường nói:

“Từng gói, từng gói nếu ai không giỏi thì gói không đều
Từng lá đỏ tươi bao tròn viên thịt
Để lá ít ít thì nem lâu chua
Để thịt vừa vừa thì nem lâu chính..”


Hay

“Cối chày gõ nhịp phân hai

Giã nem mới biết ai dai sức bền
Áo người biết giử thì lành
Áo nem biết gói mới mau hơn người
Tay cô miếng lá nhẹ tơi
Vuông vuông gói nhỏ giữ thời khéo tay” .

Làng nem Lai Vung nằm dọc theo quốc lộ 80 – thị trấn Lai Vung, tuyến đường chính của các xe khách, xe du lịch từ Thành phố Hồ Chí Minh đi các tỉnh miền Tây Nam Bộ. Chính điều này đã tạo nên nhiều thuận lợi cho việc buôn bán cũng như quảng bá thương hiệu với du khách thập phương.

nem lai vung có vị đặc trưng rất riêng


Nhiều người đi ngang địa phận Lai Vung- Đồng Tháp, đều tranh thủ ghé lại mua vài chục nem về làm quà cho người thân và gia đình. Hương vị đặc trưng của nem Lai Vung đã tạo nên một ấn tượng khó phai trong lòng mọi người về mảnh đất và con người nơi đây.

Diemthuy

Gác kèo ong

Có lẽ dù chưa được tận mắt chứng kiến, nhưng không ít lần bạn được nghe nói đến nghề gác kèo ong ở rừng U Minh. Đó là một nghề hết sức đặc biệt, thịnh hành cách nay hàng thế kỷ và hiện đang dần chìm vào lãng quên…

Ong mật tự nhiên thích làm tổ tên những nhánh cây đâm xiên. Chỗ chúng chọn cũng đòi hỏi phải hội đủ những yếu tố phù hợp về địa thế, địa hình và địa bàn hoạt động thuận tiện cho chúng chứ không phải bạ đâu làm đấy.
Ngoài yếu tố phải có một nhánh cây chắc chắn có độ nghiêng đạt yêu cầu, trước hết nơi làm tổ thường là những vạt đất cao ráo, nhưng phải gần mép nước (thường là mé lung hoặc bờ kênh) không có cây cối um tùm làm cản trở đường bay của đàn và xung quanh khu vực phải có nhiều cây tràm xanh tốt để chúng lấy mật.
Lợi dụng sự “khó tính” của ong mật, người gác kèo ong (mà dân gian còn gọi là người “khạo rừng”) tìm nơi thích hợp trong rừng tràm làm những cây xiên cho chúng đến làm tổ. Chính vì nhánh cây gác xiên xiên tương tựa chiếc kèo trên mái nhà nên nó được gọi là cây “kèo” (trong nghề gọi là “tấm kèo”) và nghề tạo nơi cho ong làm tổ để lấy mật được gọi là nghề “gác kèo ong”.

Chỉ có hai loại cây dùng để làm ra những tấm kèo là tràm và nhum, nhưng thường thì người ta thích dùng cây nhum hơn vì đây là thứ gỗ tốt, chắc, để ngoài mưa nắng lâu mục hơn tràm. Sau khi tìm được nơi vừa ý và gác kèo xong, dân khạo rừng còn phải tiến hành truy lùng và triệt phá hết tổ của các loại ong dữ như ong vò vẽ, ong lỗ xung quanh. Bởi vì những loại ong này chuyên tấn công và ăn thịt ong mật. Nếu có chúng thì ong mật sẽ không bao giờ đến làm tổ.

Sau khi chuẩn bị xong mọi thứ, người khạo rừng chỉ việc xoá hết dấu vết để tránh sự dòm ngó của người khác, không phải vì sợ bị trộm mà là sợ bị làm động thì ong sẽ không đến “ốp” (làm tổ). Đối với những người khạo rừng dày dạn kinh nghiệm thì họ đạt đến trình độ chỉ cần gác xong kèo là có thể đoán trước được khi nào ong đến ốp và thời gian nào thì có thể quay lại kèo để “ăn ong” (thu hoạch).


Xưa kia, vào thời kỳ Pháp thuộc, rừng U Minh còn mênh mông, mỗi người khạo rừng có thể gác một mùa chừng 100-300 tấm kèo và thu hoạch khoảng 2.000-3.000 lít mật. Đó là chưa kễ đến nguồn lợi thu được từ sáp ong.

Mật ong ở rừng U Minh có mùi thơm bông tràm rất đặc trưng do chúng lấy mật chủ yếu từ hoa của loài cây này. Ở một số vạt rừng ngập mặn ven biển thuộc vùng Miệt Thứcủa Kiên Giang, người ta từng biết đến một thứ mật ong không thể nào sử dụng được do có vị rất đắng. Nguyên nhân là ong đã hút mật từ hoa của cây giá, một loài cây sống phổ biến ở loại hình rừng này và có chất độc đối với con người.

Đã có rất nhiều câu chuyện xung quanh loài ong mật ở rừng U Minh, nhưng nhiều nhất vẫn là chuyện người bị ong chích (đốt), trong đó có không ít nhà quay phim, nhà nhiếp ảnh, nhà báo và một số du khách đã chụp ảnh tổ ong mà không hiểu đặc tính của chúng. Những người bị ong mật chích thường thì về bị sưng đau, sốt đến bỏ cơm.
Thật ra muốn chụp ảnh, quay phim tổ ong không khó, chỉ cần bạn tắt hết tất cả chế độ điều khiển tự động của máy, nhất là chế độ tự động lấy nét là có thể chụp, ngắm thỏa thích, vì tia sóng từ máy phát ra để định vị khoảng cách tự động là một thứ kích thích loài ong rất mạnh.
Nếu muốn chắc ăn hơn, bạn có thể từ từ đến ngồi ngay dưới tổ ong để chụp mà chẳng việc gì xãy ra. Đó là do khi con ong rời khỏi tổ, nó sẽ bay lên và bay ra xa chứ không bao giờ bay xuống ngay bên dưới tổ của chúng. Đây có thể là một số kinh nghiệm quý giúp bạn tránh “tai nạn” đáng tiếc khi đi du lịch U Minh Thượng mà muốn ghi lại hình ảnh của tổ ong.

Ngày nay rừng U Minh đã bị thu hẹp, hơn nữa, công tác bảo vệ rừng ngày càng nghiêm ngặt, nghề gác kèo ong trong rừng tự nhiên đã bị cấm tuyệt đối, cho nên bạn sẽ không còn được chứng kiến người khạo rừng gác kèo ong như thế nào. Tuy nhiên, nếu muốn bạn vẫn có thể đến những khu rừng tràm trồng mới của các hộ dân ở huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xem cách người dân ở đây “ăn ong” như thế nào.
Nguồn: Diemcuoituan.com

Vọp nướng chấm muối tiêu

Món ăn này vừa mang hương vị đặc biệt, vừa mang niềm vui bất tận cho khách tứ phương.

Cà Mau bây giờ rất hiếm vọp, vì nó trở thành món ăn quý hiếm. Lựa loại vọp ta, rửa sạch, để ráo nước, sắp vào đĩa. Gia vị gồm muối tiêu chanh thêm bột ngọt, các loại rau cải. Lò than cháy đều, đặt lên bàn, để vỉ nướng lên trên. Ðặt vọp lên vỉ, có thể nhiều con cùng một lúc. Khi tiệc đến lúc nào hứng thì món vọp nước sẽ làm cho rôm rả hết ý! Lúc vọp há miệng là vừa chín tới, ăn rất ngọt. Ðể lâu sẽ chín quá, khô nước, thịt dai, nhạt nhẽo.
Nguồn: Diemcuoituan.com

Ba khía Bạc Liêu!

Hồi trước tết, qua giới thiệu của một người quen, một gã nhà báo chuyên viết về ẩm thực ở Sài Gòn đến tìm tôi xin trú ngụ trong thời gian về Bạc Liêu săn lùng món ăn ngon. Nghe nói gã cũng là một cây bút khá.

Gã khoảng hơn 30 tuổi, mới tới đã làm tôi sốc. Từ bến xe, gã điện thoại: “Ông ra chở tôi về coi”. Quần áo gã lượm thượm, vẻ mặt ngơ ngơ ngáo ngáo. Gã đi tỉnh công tác mà như đi Tây mang theo đến ba cái túi xách tổ bố, đựng nào gia vị thức ăn, trà rượu… mà sau này gã kể là hàng độc. Gã thản nhiên: “Ông xách giùm tôi hai cái túi xách nhé!”.

Tôi sùng trong bụng, nhưng nể tình người bạn giới thiệu đành xếp chỗ ngủ cho gã, kêu vợ làm món ăn ngon đãi cơm. Vào mâm cơm, gã lại gây sốc: lừ mắt nhìn rất lâu từng món ăn, gắp một đũa thức ăn cho vào miệng không nhai mà định thần, vểnh tai như lắng nghe mùi vị. Suốt bữa ăn, gã hoàn toàn không nói một câu xã giao mà rặt một thứ hỏi và nói về thức ăn. Tôi lẩm bẩm: “Chẳng lẽ thằng này viết về thức ăn đến đỗi nhập tâm, đến đỗi cà tửng như thế sao?”.

Gã hỏi tôi: “Nghe nói ông suốt đời quanh quẩn ở Bạc Liêu, chắc là rành về món ăn Bạc Liêu”. Tôi cười khẩy: “Cả đời tui nghèo có cái bỏ vào mồm là phước đức ông bà để lại rồi, chứ cao lương mỹ vị ở đâu mà biết món ngon vật lạ”. Gã dạy đời: “Tại mình không biết chế biến đó thôi chứ vùng Bạc Liêu đặc sản nhiều lắm, tiềm lực về món ngon là phong phú vô cùng. Biển Bạc Liêu ba khía nhiều lắm, hôm nào ông mua ba khía về tôi làm gỏi, ông ăn ông sẽ sáng mắt”.

Tôi lầm thầm trong bụng: cả đời “ông” vì nghèo nên “ông” toàn ăn đặc sản, ăn đến mòn răng, ăn từ thời nó chưa là đặc sản mà còn là món ăn của người bình dân. Cả đời ăn đặc sản Bạc Liêu “ông” chỉ biết mắm ba khía, hay gần đây không có mồi nhậu mấy tay bợm rượu luộc ba khía làm mồi ăn lãng xẹt chớ ngon gì đâu. “Ông” chưa bao giờ nghe nói món gỏi ba khía. Thằng này láo toét, được rồi... Chiều tôi đi mua theo “toa” của nó gồm: 1kg ba khía, 1kg khế già, một ít ngò gai, lá quế… vị chi là 12 ngàn đồng.
Tôi còn tranh thủ rủ em út bạn bè đến nhậu món “gỏi ba khía” để lột mặt nạ thằng này cho đông vui.Nó kêu vợ con tôi mang gia vị mà nó cần rồi bảo: “Để đó lên nhà trên chơi đi, đừng có đụng vào thứ gì của tôi”. Tôi len lén nhìn nó khoan thai xắt xắt xào xào thần thái mơ màng như kẻ mộng du. Một giờ sau, nó bảo: “Xong rồi, mời tất cả nhập tiệc”.

Trên bàn, hai dĩa gỏi được trình bày khá bắt mắt, xanh xanh, đỏ đỏ, vàng vàng điểm những cái hoa ớt. Tôi gắp bỏ vào miệng một miếng to rồi giật mình. Ngọt thì thật là ngọt, chua thì thật là chua, thơm thì thật là thơm, cay thì thật là cay, béo thì thật là béo, tổng lại ngon thì ngon đến vô cùng. Tôi há hốc mồm thảng thốt, rồi nhìn mấy gã bạn, thằng nào cũng đỏ mặt tía tai ngạc nhiên nhìn nhau rồi đồng thanh: ôi sao nó ngon thế này!Con này là con ba khía đầy ở biển Bạc Liêu đó ư? Không! Nó là “nem công chả phụng” chứ ba khía gì mà ngon đến như thế.

Sau đó, T. còn làm mấy món ngon đãi gia đình tôi nữa rồi mới khăn áo về Sài Gòn. Vợ con tôi luyến tiếc: “Chú T. ở lại ít hôm dạy nấu ăn nhé”.Tôi đưa T. lên xe, dúi cho nó một ít quà quê trong cử chỉ tẽn tò của một kẻ vừa được dạy cho một bài học. Tôi đã sáng mắt ngộ ra cái vai trò quan trọng của văn hoá ẩm thực trong đời chúng ta. Nó thật mầu nhiệm, nó biến những món tầm thường quanh ta thành cao lương mỹ vị, làm sung sướng thêm đời sống con người.
Nguồn: Diemcuoituan.com

Vịt nấu chao đường Lý Tự Trọng

Vào các trang web lữ hành và các forum tư vấn du lịch, hẻm 1 và hẻm “Tỉnh Đoàn” đường Lý Tự Trọng, quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ được du khách ví von là các “hẻm vịt nấu chao” và xem đây là một trong những món ăn đặc sản mang phong vị riêng của đất Tây Đô.
Hẻm 1 và hẻm “Tỉnh Đoàn” đường Lý Tự Trọng có khá nhiều quán ăn, quán nào cũng bán nhiều món ăn. Nhưng món chính làm nên “tên tuổi” của hẻm trong giới ẩm thực chính là lẩu vịt nấu chao. Chiều nào cũng vậy, khách ta chen lẫn khách Tây ngồi quây quần bên nồi lẩu bốc khói thưởng thức hương vị độc đáo của món ăn. Với 60.000-70.000 đồng, nhóm ba đến bốn người sẽ có một lẩu vịt nấu chao chẳng những ngon miệng mà còn no lòng.

Nước lẩu vừa có vị cay nồng của chao trắng, chao đỏ, hòa với sự ngọt dịu của nước dừa, nước hầm xương. Thịt vịt đã được ướp, xào cùng hành tím, tỏi; ninh kỹ từ trước, nên khi múc ra cho vào lẩu thì cũng vừa mềm. Khoai môn được chiên vàng trước khi cho vào lẩu, nên ngọt, bùi mà vẫn không nát. Trong lẩu còn nổi lên những tai nấm rơm nhỏ bằng đầu ngón tay làm vị ngọt của nước lẩu thêm đậm đà. Rau muống, cần nước, cải xanh, mồng tơi... tươi xanh được dọn kèm để khách ăn đến đâu thì nhúng đến đó nhằm giữ nguyên vị giòn ngọt. Ăn kèm với lẩu vịt nấu chao còn có bún, mì tươi hoặc bánh mì và nước chấm là một chén chao trắng nguyên chất. Tất cả những nguyên liệu trên làm nên sự tổng hòa của màu sắc, gia vị, thịt, rau củ... cho một món ăn ngon, bổ dưỡng.

Gần đây, một vài quán ăn tại TP Hồ Chí Minh và một số địa phương khác cũng phục vụ vịt nấu chao. Thế nhưng, thưởng thức vịt nấu chao tại Cần Thơ vẫn hấp dẫn hơn, vì thưởng thức món ăn giữa không khí mát mẻ và nhịp sống thư thái mỗi buổi chiều trên đất Tây Đô.
Nguồn: Diemcuoituan.com

Hủ tiếu Mỹ Tho - Tỉnh Tiền Giang

Hủ tiếu Mỹ Tho khác hủ tiếu Tàu, hủ tiếu Nam Vang, phở Bắc, bún bò Huế... ở chỗ không ăn với xà lách, giấm, rau ghém, mà dùng giá sống, chanh, ớt, nước tương. Ðiều làm nên hương vị riêng khiến cho hủ tiếu Mỹ Tho trở nên nổi tiếng và nhiều người "bén mùi" kể từ thập niên sáu mươi nhờ sự hoàn thiện từ khâu chọn hột gạo làm ra cọng bánh tới nồi nước lèo cùng tuyệt kỹ pha chế của các đầu bếp trứ danh đất Mỹ Tho như: Phánh Ký, Nam Sơn, Tuyền Ký... cùng các lớp thợ nấu sau này.

Nhiều người cho biết, hủ tiếu ngon nhất phải là loại làm bằng gạo Gò Cát (đặc sản như tàu hương, nàng thơm chợ Ðào). Ðây là vùng trồng lúa thơm địa phương của xã Mỹ Phong, ngoại thành Mỹ Tho. Cũng cần nói thêm, gạo Gò Cát làm bún, bánh tráng, bánh nghệ nức tiếng ở Mỹ Tho hơn 40 năm nay. Nhưng hủ tiếu ngon phải là bánh khô, khi nấu trụng sơ nước sôi, tươm mỡ hành phi, cọng trong bóng, bắt mắt.

Hồi trước hủ tiếu Mỹ Tho ngoài thịt, lòng còn có con tôm chẻ đôi bày trên mặt, trông ngon mắt. Giờ để giá thành hợp túi tiền của số đông, người ta thay bằng sườn, cặp trứng cút .

Ngón gia truyền không ai chịu hé răng. Hơn kém nhau còn tuỳ thuộc vào nồi nước lèo. Về cơ bản, chất ngọt của nước lèo từ xương ống hầm kỹ, thịt và khô mực nướng, cùng một số nguyên liệu, gia vị đặc trưng, được các đầu bếp gia giảm theo khẩu vị khách hàng của mình. Mỗi lần mở nồi hầm chan bánh, hương thơm ngào ngạt mời gọi khách làm nhiều người qua đường cầm lòng không đậu. Vì vậy, dù hàng quán khu vực Cầu Quay - Mỹ Tho tuềnh toàng, thực khách vẫn cứ nườm nượp. Thậm chí, trong cẩm nang của nhiều hãng du lịch lữ hành quốc tế giới thiệu hẳn tên những hiệu ăn nổi tiếng của nơi đây.

Hủ tiếu Mỹ Tho là món ăn đặc sản đậm đà tính dân tộc luôn gợi nhớ đối với những ai đã từng tri âm tri kỷ với đất Mỹ Tho. Thật hiếm có món ăn nào làm theo cách thức của người dân Nam bộ lại vừa miệng cả giới Tây, Tàu.
Nguồn: Diemcuoituan.com

Rượu đế Gò Đen

Đó là câu nói cửa miệng của dân nhậu miền Nam. Gò Đen là một địa danh nổi tiếng ở huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Rượu đế Gò Đen có từ thời Pháp thuộc.
Ngày ấy, thực dân không cho dân ta nấu rượu hòng độc quyền sản xuất thứ rượu công xi (régie). Rượu công xi nhạt không hợp với khẩu vị nên người dân vẫn lén nấu rượu lậu. Mỗi vùng người dân nghĩ ra một cách đối phó. Dân Gò Đen nấu rượu lậu trong đám đế (một loại cỏ thân cao) hoặc nấu xong cho vào bong bóng lợn, bong bóng trâu, giấu đi chờ bán. Rượu đế Gò Đen ra đời từ đó và tồn tại cho đến bây giờ.


Tĩnh ủ rượu hơn 100 tuổi
Trong tâm trí của mỗi dân nhậu Nam bộ, rượu đế Gò Đen xếp hàng 'đệ nhất tửu'. Vì sao Gò Đen lại được coi là 'đệ nhất tửu' ? Truyền rằng, trước đây, dân Gò Đen nấu rượu bằng tất cả cái tâm. Họ chăm chút từng hạt nếp, cục men, từng động tác chưng cất, pha chế để được loại rượu ngon nhất. Chọn nếp là bước quan trọng đầu tiên. Muốn được rượu trong thì nếp phải 'rặt', tuyệt đối không được lộn hạt gạo nào.
Dân nấu rượu Gò Đen xưa thường chọn những loại nếp hạt tròn, mẩy, có mùi thơm. trắng đục đều. Thường là nếp mỡ và nếp mù u và nếp than đen tuyền được trồng chính tại địa phương. Sau khi chọn nếp ngon nấu thành cơm nếp, để nguội thì rắc men vào ủ bằng loại men mài rễ thảo mộc hoặc men bí truyền chế từ các vị thuốc bắc: quế khâu, đinh hương, trần bì, quế chi, đại hồi cộng thêm nhãn lồng, trầu hương...
Sau ba đêm tiếp tục chan nước rồi để ba đêm sau nữa nấu. Chỉ riêng khâu ủ men truyền thống đã mất gần một tuần (trong khi ủ bằng men Trung Quốc chỉ mất ba ngày). Đặc biệt hơn nữa, cái thứ chắt lọc tinh túy của thời gian, men nồng, nếp thơm, lửa đượm này phải được chan bằng nước Gò Đen, nấu trong không khí Gò Đen mới có mùi vị đặc sắc.


Người Gò Đen cẩn thận trong các bước nấu rượu. Nếp được ngâm đến ngày thứ bảy thì mới bắt đầu cất rượu. Người Gò Đen xưa nấu rượu trọng chất lượng. Nếu rượu để thưởng thức sẽ được cho vào hũ sành, bịt kín lại rồi ngâm xuống ao khoảng 100 ngày mới mang lên uống. Rượu đế Gò Đen dễ nhận biết.
Dân sành rượu thường dùng cách lắc chai để nhận biết rượu ngon hay dở. Rượu ngon khi lắc chai sẽ nổi bọt và phân thành 3 tầng rõ rệt, chậm tan. 'Mỹ tửu' Gò Đen 'chinh phục' người uống bởi rượu trong như nước mưa. Mỗi khi rót rượu vào ly, tiếng rượu chảy, vị cay nồng đã đủ làm say, làm khao khát lòng người uống.
Nguồn: Diemcuoituan.com

Vườn cây ăn trái Cái Mơn


Vườn cây ăn trái Cái Mơn thuộc xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. Cái Mơn là một làng quê thuần chất Nam Bộ với những con đường nhỏ hẹp bao phủ bởi rặng cây xanh nặng trĩu quả ngọt.


Ðến đây mùa nào cũng có các loại trái cây để ăn. Làng nghề Cái Mơn hàng năm còn cung ứng cho thị trường nhiều triệu cây giống các loại như sầu riêng, măng cụt, xoài cát, nhãn tiêu, bòn bon và các loại cây có múi.

Cái Mơn cũng là nơi có nhiều nghệ nhân, nhân giống triết cành tạo nên các loại cây cảnh và hình bó nai, hình con hươu, nai, rồng, phượng... rất đẹp mắt. Sản phẩm được bán nhiều ở Thủ Ðức, Biên Hòa,... và xuất sang các nước trong khu vực Đông Nam Á.
Nguồn: Diemcuoituan.com

Mùa Mắm Đồng



Giữa tháng 10 đến tháng 11 âm lịch, khi bắt đầu thổi, là lúc lũ ở miền Nam dần rút, thời điểm này cá từ đồng trút đổ ra sông. Bà con ngư dân vùng Châu Đốc – An Giang lại rộng ràng cho mùa mắm mới.

Bằng lưới, chài, vó, vớn,.., bà con có một mùa thu hoạch đầy ắp cá: cá sặc, cá rô, cá lóc, cá chốt, cá trèn… nhưng nhiều nhất vẫn là cá linh. Cá nhiều nên thường phải bán giá rẻ, đồng thời khó bảo quản tươi nên giải pháp ổn thỏa nhất là làm mắm.



Quy trình để biến đổi từ con cá thành con mắm kéo dài khoảng 4 – 5 tháng. Mỗi cơ sở sản xuất lại có bí quyết gia truyền để tạo nên hương vị mắm đồng độc đáo của riêng mình và làm nên những thương hiệu, nhưng chung quy đều phải trải qua ba khâu chế biến chính: 1/ Cá làm sạch ruột, ủ muối khoảng 30 ngày, 2/ Đem cá muối rửa sạch mỡ và tạp chất, để ráo, trộn với thính (gạo rang, xay nhuyễn) rồi cho vào lu, gài nêm thật chật, cho nước muối nấu sôi để nguội vào, 3/ Khoảng ba tháng sau vớt cá ra khỏi lu, để ráo nước rồi trộn với đường thốt nốt, lúc này mắm đã có thể dùng được.



Tùy theo loại cá làm mắm mà có những cách ăn phù hợp. Mắm linh, mắm sặc thường được kho hay nấu lẩu mắm. Mắm lóc cao cấp hơn nên giá cũng cao và cách ăn cũng cầu kỳ hơn. Cách chế biến mắm lóc ngon nhất là làm mắm chưng: băm nhuyễn con mắm, trộn với trứng vịt, thịt ba chỉ, củ hành, gừng, ớt… chưng cách thủy.

Mắm lóc còn được trộn với đu đủ thành món mắm thái, dành ăn được lâu. Song ngon nhất hạng mắm đồng là mắm trèn lá, con cá trèn nhỏ và mỏng, thịt vừa dòn vừa thơm. Mắm trèn ăn kèm với thịt luộc, bánh tráng, rau, bún… không chê vào đâu được!


Ngày nay ít người được thưởng thức mắm ruột và mắm trứng (mắm được làm từ ruột cá lóc hay trứng cá lóc). Hai loại mắm trên rất hiếm, chế biến rất công phu, thường thì những gia đình làm ra loại mắm này chỉ để dành ăn hay biếu, ít khi bán ra trên thị trường. Nếu đến Châu Đốc, bạn được chủ nhà đãi một bữa ăn có hai loại mắm trên kể như bạn đã là người thân thiết của gia đình rồi!



Nguồn: Diemcuoituan.com

RƯỢU ÁP SANH BẦU GỐC VÀ RƯỢU NẾP SƠN ĐÔNG

Người Việt Nam có nhiều loại rượu. Có rượu phải chưng cất công phu, nhưng cũng có loại chỉ ủ men, có rượu pha chế từ trái cây, khoai, sắn, từ gạo nếp, gạo tẻ, lại có cả rượu cần độc đáo. Cái "văn hóa rượu" được thể hiện trong nghệ thuật nấu rượu.

Ở đâu cũng vậy khi vui lúc buồn, khi cần tìm hứng, lúc muốn tiêu sầu người ta cần tìm đến rượu. Không chỉ đơn thuần có vậy mà rượu đã góp vào nền văn hóa một sắc hương riêng biệt.

Ở Vĩnh Long rượu cũng có nét riêng của nó, ở đâu cũng sản xuất được rượu nhưng chỉ có vài nơi khẳng định được tên tuổi, có vị trí trong giới thưởng ngoạn về rượu đó là: rượu áp sanh Bàu Gốc và rượu nếp Sơn Đông.

Bàu Gốc là một địa danh thuộc ấp Phú Long B - xã Phú Quới, huyện Long Hồ. Năm 1926, ông Huỳnh Văn Cao, một lão nông tri điền nhưng giỏi chữ Tàu thường hay hốt thúôc để trị bệnh cho hàng xóm, trong làng ai bị đau bụng, ói mửa, tiêu chảy … thường được ông cho uống toa thuốc Bắc này (gồm quế khâu, cam thảo, ý dĩ,cùng các dược thảo khác… ).

Trong nhà lúc đó thường nấu rượu nếp để bán, một "phát kiến" nảy sinh trong ông, ông đem bài thuốc bắc áp dụng trong việc nấu rượu.

Việc nấu rượu ở đây cũng giống như bao nơi khác, chọn loại nếp ngon (nếu nếp lức càng tốt) nấu chín, còn gọi là nấu cơm da, trải đều ra nia (có nơi sử dụng đệm) để nguội, sau đó trộn với men, rồi ủ vào hủ để khoảng 4 ngày, sau đó sang qua nồi để nấu. Nồi được nối 2 cái ống để bốc hơi lên, thông nhau ở hai thùng nước, để khi hơi nóng của men rượu bốc lên gặp lạnh tạo thành hạt, nhỏ xuống sau đó được nối vào ống nhựa để giọt rượu nhỏ xuống chai.

Theo các cụ già sành điệu thì rượu “lờ đờ nước hến” mới là rượu ngon, phải sực mùi nếp thơm, tránh được mùi men sống và nấu khê, dĩ nhiên không thể chấp nhận vị chua; muốn thưởng thức rượu ngon thì phải uống khi đói, không uống nhiều, uống chung nhỏ, uống nhấp chút, uống để thưởng thức uống để tạo hứng làm nồng câu chuyện.

Người sành điệu chỉ cần đưa chai qua mũi là biết được độ rượu, còn nhìn tăm rượu thì đoán độ nặng nhẹ còn chính xác hơn,người xưa thường cho rượu vào bình lớn hạ thổ “tam niên bách nhật” để âm khí của đất hút đi cái nóng, cái dương tính của rượu.

Nghệ thuật nấu rượu còn là một nghề bí truyền của riêng từng nhà, từng vùng. Muốn nấu rượu ngon phải chế được men như ý, chọn nếp, gạo, biết cách ủ, lựa thời tiết mà chế cất, nhưng cái quan trọng là giữ được cái thơm tự nhiên của mùi vị. Rượu áp - sanh đặc biệt chỉ nấu bằng nếp cùng bài thuốc độc đáo. Khi dùng rượu áp - sanh còn có thể pha thêm với nước dừa tươi, nước mưa nước khoáng.

Còn rượu Sơn đông là rượu nếp nguyên chất không cần phải pha thêm. Rượu Sơn Đông có tiếng từ lâu đời, được người làng Sơn Đông, xã Thanh Đức, huyện Long Hồ chưng cất từ nếp, gạo. So với các loại rượu gao, rượu nếp các nơi khác rượu Sơn Đông có nồng độ cao hơn, trung bình từ 450 – 500. Tuy rượu khá cao độ như thế nhưng rượu có mùi thơm rất đặc trưng, uống vào nghe ngòn ngọt và tê tê đầu lưỡi. Rượu Sơn Đông làm cho người ta mau say nhưng chóng tĩnh táo và không nhức đầu.
Nếu có dịp đến Vĩnh Long xin quí khách thưởng thức hai loại rượu nổi tiếng của quê hương.
Nguồn: Internet

Thứ Sáu, 27 tháng 3, 2009

Đến Lai Vung, Ngắm quýt hồng

“Nem Lai Vung vừa chua vừa ngọt
Quýt Lai Vung vỏ đỏ ruột hồng…”.




Ở Lai Vung, ngoài nem chua, thì còn có một đặc sản khác là quýt hồng. Vì thổ nhưỡng tốt cộng với dòng nước ngọt quanh năm của hai con sông Tiền và sông Hậu nên quýt hồng nơi đây cho trái rất to, võ ngoài vàng óng, nhiều nước, vị ngọt thanh tao và đặc biệt có mùi thơm rất đặc trưng.

Một điều đặc biệt là ở Đồng bằng sông Cửu Long, thì chỉ duy nhất mảnh đất Lai Vung là nơi trồng được quýt hồng to, đẹp và ngon ngọt.Vào vườn quýt hồng vào dịp cận tết, tất cả mọi người dường như bị cuốn hút, “ngây ngất” bởi vẽ ngoài vàng óng, lộng lẫy của những trái quýt chín vụ.

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket


Photobucket

Photobucket


Photobucket


Photobucket


Photobucket


Clip hình ảnh về Quýt hồng Lai Vung

Diemthuy
Một số hình ảnh được lấy từ anhtuands’ Blog